Bệnh uốn ván

bệnh uốn ván

Bệnh uốn ván là căn bệnh nguy hiểm do độc tố của vi khuẩn tác động lên hệ thần kinh, gây ra những cơn co thắt lặp đi lặp lại các cơ gây đau đớn, đặc biệt là cơ hàm và cổ. Uốn ván có thể đe dọa tính mạng do ảnh hưởng đến khả năng thở. Uốn ván thường được gọi là “trismus”.

bệnh uốn ván
Người mắc bệnh uốn ván

Nhờ có thuốc chủng ngừa uốn ván, các trường hợp mắc bệnh uốn ván rất hiếm ở Hoa Kỳ và các nước phát triển khác. Nhưng căn bệnh này vẫn là một mối đe dọa không thể bỏ qua đối với những người không được tiêm phòng kịp thời và phổ biến hơn ở các nước đang phát triển.

Không có cách chữa khỏi bệnh uốn ván. Điều trị tập trung vào việc kiểm soát các biến chứng cho đến khi tác dụng độc hại của độc tố uốn ván hết.

Triệu chứng của bệnh uốn ván

Các triệu chứng của bệnh uốn ván có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, từ vài ngày đến vài tuần sau khi vi khuẩn uốn ván xâm nhập vào cơ thể qua vết thương. Thời gian ủ bệnh trung bình từ 7 đến 10 ngày.

Các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến của bệnh uốn ván bao gồm:

  • Co thắt cơ hàm, cứng khớp (trismus)
  • Cơ cổ cứng
  • Rất khó để nuốt
  • Cứng cơ bụng
  • Chuột rút cơ thể đau đớn kéo dài trong vài phút và thường được kích hoạt bởi các yếu tố rất tinh tế, chẳng hạn như gió lùa, tiếng động lớn, chạm vào cơ thể hoặc ánh sáng

Các dấu hiệu và triệu chứng khác có thể xuất hiện bao gồm:

  • Sốt
  • Đổ mồ hôi
  • Huyết áp cao
  • Tăng nhịp tim

Uốn ván khu trú: Dạng uốn ván không phổ biến này dẫn đến co thắt cơ gần vị trí vết thương. Mặc dù đây thường là dạng bệnh ít nghiêm trọng hơn, nhưng nó có thể tiến triển thành bệnh uốn ván toàn thân.

Bài viết khác:  Bệnh béo phì ở trẻ em
bệnh uốn ván
Dấu hiệu của bệnh uốn ván

Khi nào cần đến gặp bác sĩ

Nếu bạn chưa tiêm phòng uốn ván trong 10 năm qua, hoặc nếu vết thương của bạn sâu hoặc bị nhiễm trùng và bạn chưa tiêm mũi nhắc lại uốn ván trong vòng 5 năm, hãy đến gặp bác sĩ để được tiêm. Nếu bạn không chắc khi nào tiêm mũi tăng cường cuối cùng, hãy tiêm vắc xin phòng uốn ván ngay khi có nguy cơ nhiễm trùng như có vết thương hở và tiếp xúc với môi trường dễ lây bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh uốn ván

Bệnh uốn ván là do độc tố tạo ra bởi bào tử của vi khuẩn Clostridium tetani, một loại vi khuẩn có trong đất, bụi và phân động vật. Khi các bào tử xâm nhập vào vết thương sâu hơn, chúng sẽ phát triển thành vi khuẩn có khả năng tạo ra độc tố mạnh (co thắt uốn ván). Chất độc này làm tổn thương các dây thần kinh (tế bào thần kinh vận động) điều khiển cơ bắp. Chất độc này gây ra cứng và co thắt cơ, là những dấu hiệu và triệu chứng chính của bệnh uốn ván.

Gần như tất cả các trường hợp uốn ván xảy ra ở những người chưa bao giờ được tiêm phòng, hoặc ở người lớn không tiêm vắc xin tăng cường sau mỗi 10 năm. Uốn ván không phải là bệnh lây truyền.

Các yếu tố sau đây làm tăng nguy cơ mắc bệnh uốn ván:

  • Chưa tiêm vắc xin phòng uốn ván hoặc vắc xin tăng cường mới nhất
  • Bào tử uốn ván xâm nhập vào vết thương do vết thương
  • Các vật thể lạ như móng tay hoặc mảnh vỡ

Các trường hợp uốn ván là do:

  • Vết thương do đâm, bao gồm mảnh vỡ, xỏ khuyên trên cơ thể, hình xăm và tiêm ma túy
  • Vết thương đạn bắn
  • Các vết thương trên cơ thể
  • Bỏng
  • Vết thương phẫu thuật
  • Sử dụng thuốc tiêm
  • Vết cắn của động vật hoặc côn trùng cắn
  • Loét chân bị nhiễm trùng
  • Nhiễm trùng miệng
  • Cuống rốn bị nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh do bà mẹ tiêm chủng chưa được tiêm chủng
Bài viết khác:  Bệnh ho gà

Một khi độc tố uốn ván đã bám vào các đầu dây thần kinh thì không thể loại bỏ được. Phục hồi hoàn toàn sau khi bị nhiễm trùng uốn ván đòi hỏi sự phát triển của các đầu dây thần kinh mới, có thể mất vài tháng.

Các biến chứng của nhiễm trùng uốn ván có thể bao gồm:

  • Gãy xương: Mức độ nghiêm trọng của tình trạng co cứng có thể khiến cột sống và các xương khác bị gãy.
  • Tắc nghẽn động mạch trong phổi (thuyên tắc phổi): Cục máu đông từ một bộ phận khác của cơ thể có thể làm tắc nghẽn động mạch chủ phổi hoặc một trong các nhánh của nó.
  • Chết: Co thắt cơ (trương lực) do uốn ván nặng có thể cản trở hoặc ngừng thở. Nguyên nhân tử vong phổ biến nhất là suy hô hấp. Thiếu oxy cũng có thể dẫn đến ngừng tim và tử vong. Một nguyên nhân khác của cái chết là viêm phổi nhiễm trùng.
vết thương bị nhiễm uốn ván
Vết thương bị nhiễm trùng là nguyên nhân gây bệnh uốn ván

Biện pháp phòng ngừa

Bệnh uốn ván có thể dễ dàng phòng ngừa bằng cách tiêm vắc xin.

Loạt vắc xin cơ bản: Thuốc chủng ngừa uốn ván thường được tiêm cho trẻ em như một phần của vắc-xin bạch hầu, uốn ván và ho gà (DTaP). Tiêm phòng này chống lại ba bệnh: nhiễm trùng cổ họng và đường hô hấp (bạch hầu), ho gà và uốn ván.

Thuốc chủng ngừa DTP dạng acellular yêu cầu 5 liều, thường tiêm vào cánh tay hoặc đùi của trẻ em trong độ tuổi đi học:

  • 2 tháng
  • 4 tháng
  • 6 tháng
  • 15 đến 18 tháng
  • 4 đến 6 tuổi
vắc xin phòng uốn ván
Tiêm vắc xin phòng uốn ván ngay khi có nguy cơ nhiễm bệnh hoặc tiêm định kỳ khi đến lịch

Mũi tiêm tăng cường: Thuốc tăng cường uốn ván thường được tiêm kết hợp với thuốc tăng cường bệnh bạch hầu (Td). Năm 2005, vắc-xin uốn ván, bạch hầu và ho gà (Tdap) đã được chấp thuận sử dụng cho thanh thiếu niên và người lớn dưới 65 tuổi để đảm bảo tiếp tục bảo vệ chống lại bệnh ho gà.

Bài viết khác:  Bệnh viêm gan C

Một liều duy nhất của Tdap được khuyến cáo cho thanh thiếu niên, tốt nhất là trong độ tuổi từ 11 đến 12, sau đó là tiêm nhắc lại Td cứ sau 10 năm. Nếu Tdap chưa bao giờ được cung cấp, hãy thay thế bằng Tdap ở lần tăng cường Td tiếp theo và sau đó tiếp tục với bộ tăng cường Td theo kế hoạch.

Nếu đi du lịch nước ngoài, đặc biệt là đến các nước đang phát triển, nơi bệnh uốn ván phổ biến hơn, hãy đảm bảo bạn được miễn dịch đầy đủ.

Để cập nhật tất cả các trường hợp tiêm chủng liên quan đến bạn, hãy yêu cầu bác sĩ kiểm tra tình trạng tiêm chủng của bạn thường xuyên.

Nếu bạn không được tiêm phòng uốn ván khi còn nhỏ, bạn nên đến gặp bác sĩ để được chủng ngừa Tdap.

Tiêm phòng cho người lớn từ 19 tuổi trở lên: Người lớn nên tiêm mũi nhắc lại 10 năm một lần. Đây có thể là một trong hai loại vắc xin, vắc xin Tdap hoặc Td.

Tiêm phòng khi mang thai: Nên tiêm nhắc lại trong ba tháng cuối của thai kỳ, bất kể lịch tiêm chủng của người mẹ.

Các khuyến nghị khác:

  • Yêu cầu bác sĩ xem xét tình trạng tiêm chủng của bạn thường xuyên.
  • Kiểm tra xem bạn có đang theo lịch tiêm chủng hay không nếu bạn đang có kế hoạch đi du lịch quốc tế.